Chứng Nhân - Trường mầm non Hoạ Mi - Ban Mê Thuột

Nóng

Chứng Nhân

Phêrô Hoàng Cao Thái, Ofm

Thấy tôi bước vào sân, thằng nhỏ độ bảy tuổi chạy vội vô nhà. Nó hối hả mặc quần áo. Tôi nghe tiếng nó đánh thức ba nó dậy. Căn nhà nhỏ vách gỗ, nền đất, rách nát, thấp lè tè và nồng mùi nước tiểu. Anh đang nằm trên võng, đắp mền kín mít dù trời oi nồng, khó nhọc thở từng hơi, nhìn tôi với đôi mắt lạ lẫm. Anh và thằng nhỏ nói với nhau lí rí cái gì đó. Tôi đoán anh bảo thằng nhỏ đi kêu mẹ nó về. Thằng bé chạy đi. Anh từ từ nhỏm dậy, chẳng nói câu nào. Anh không biết tiếng Kinh. Tôi bối rối không biết nên tiếp tục đứng trong nhà hay bước ra ngoài sân, đành đưa mắt quan sát “nội thất” của căn nhà. Ba hòn đá xếp lại với nhau thành cái bếp nằm trong góc nhà bên cạnh rổ chén bát. Vài cái nồi nho nhỏ nằm chỏng chơ. Một miếng vải lớn làm màn che hờ hững chiếc giường phía sau với đủ thứ quần áo, mùng mền. Một bàn thờ được gắn trên vách gỗ. Tượng Chúa Kitô Vua, Mẹ Mân Côi và Thánh Giuse còn mới, ngay phía đầu võng nơi anh đang nằm. Tiếng ho của anh làm tôi giật mình. Anh đang nhìn tôi, có vẻ ngại ngần vì gia cảnh của mình. Tôi lại bối rối, sợ mình vì quá tò mò mà làm tổn thương anh. Thời gian nặng nề trôi qua cùng với mùi nước tiểu phảng phất trong không khí.

Vùng Yang Biên này đối với tôi thật u ám. Nó bị cắt rời khỏi “thế giới bên ngoài” bởi con sông Cái. Chiếc cầu treo cũ nát là chiếc cầu duy nhất nối liền hai bờ. Tôi đã đi trên chiếc cầu treo ấy để đến đây. Từng bước chân rung theo những sợi cáp rỉ sét, trên những tấm ván mục. Lòng sông rộng. Nước trong veo, có thể thấy rõ những tảng đá lớn cùng với những viên cuội nhẵn thín. Một vài đứa trẻ đang tắm sông, vui vẻ với một trong những cái thú giải trí lành mạnh ít ỏi ở vùng này. Cách đây ít lâu, cây cầu này đã chứng kiến hai cái chết đau thương: Một người đàn ông treo cổ tự tử ngay đầu cầu và một thiếu nữ bị giết, xác nằm dưới gầm cầu, sát mé nước. Tôi hơi rùng mình khi nghĩ đến cái phương tiện duy nhất đưa tôi đến nơi đây.

Chị về đến nhà. Người ướt đẫm mồ hôi, chiếc nón lá đội lúp xúp, chị vội vàng sai hai thằng nhỏ con chị sang nhà bên cạnh mượn mấy cái ghế. Tôi đã đứng trong tư thế nào trong suốt thời gian ấy nhỉ? Chẳng biết. Gặp tôi, chị tay bắt mặt mừng. Tôi thực sự quý mến và kính trọng người phụ nữ này. Một tay chị làm lụng nuôi sống gia đình: hai vợ chồng và sáu đứa con, trong đó có ba đứa là con riêng của anh. Thỉnh thoảng anh lại đau bệnh, chỉ biết cắn răng chịu đựng và uống vài ba thứ lá thuốc hái trong rừng. Nhà không đủ gạo để ăn lấy tiền đâu mà đi bệnh viện. Chị buồn ứa nước mắt khi nhìn chồng. Tôi hỏi có khi nào chị giận Chúa không. Chị lặng im không đáp. Nhưng tôi biết câu trả lời của chị.

Mỗi tối, trong căn nhà này, dưới ánh đèn đỏ lờ mờ yếu ớt, vang lên những lời kinh bằng thứ ngôn ngữ trọ troẹ của gần hai mươi đứa trẻ, con anh chị và con hàng xóm. Chị dạy kinh cho chúng, những kinh mà chị thuộc. Chị dạy chúng mỗi tối trước khi đi ngủ phải đọc kinh cảm ơn Chúa. Phải, chị cảm ơn Chúa mỗi ngày cho dù “ngày nào” chị cũng phải đương đầu với “cái khổ của ngày ấy.” Và chị cũng dạy người khác làm như vậy, một cách đơn sơ nhưng chân thành và đầy lòng phó thác. Phải thấy được hoàn cảnh của gia đình chị mới có thể hiểu được giá trị của lời kinh tạ ơn. Bấy nhiêu thôi cũng để tôi nhận ra nơi chị hình ảnh của một chứng nhân, một chứng nhân thầm lặng.

Hai thằng nhỏ khệnh khạng khiêng chiếc ghế gỗ vào nhà. Lớn rồi mà vẫn chưa được đi học. Chị bảo chúng thông minh lắm, nhưng có tội nhút nhát, chỉ muốn chơi quanh quẩn ở nhà chứ không muốn đi xa. Còn mấy đứa lớn, đứa thì chị gởi ở nhà ngoại, đứa thì đã biết vác rựa theo chị đi rẫy cho dù nó chỉ cao nhỉnh hơn cái rựa một chút…Cả nhà đầu tắt mặt tối mà cũng chỉ đủ bữa cơm, bữa khoai, có bữa chỉ toàn rau rừng. Nói chung thì đó cũng là hoàn cảnh thường gặp của bà con dân tộc nơi đây. Đi đến làng nào, vào nhà nào, tôi cũng được nghe kể những câu chuyện, không, không phải là những câu chuyện mà là những mảnh đời tương tự như thế. Cái mùi nghèo đặc sệt trong không khí. Vì vây, gia đình chị không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhưng chỉ nơi người phụ nữ này, từ trong ánh mắt của chị, tôi mới nhận ra một tia hy vọng, một cái nhìn tin tưởng vào điều mà đôi khi chính tôi còn có cảm giác mơ hồ: Sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa.

Chị bảo, mai mốt có điều kiện, anh chị sẽ đi học giáo lý để có phép hôn nhân, cho mấy đứa nhỏ được rửa tội, xưng tội rước lễ. Tôi hỏi cái “mai mốt” của chị là khi nào. Chị ấp úng trả lời: “Chưa biết khi nào cả!” Rồi nhìn tôi, chị ngại ngần cúi mặt. Chị ơi! Làm sao chị có thể ngại ngần khi nói với tôi điều ấy. Chị đâu phải là tôi. Sau chuyến viếng thăm này, tôi sẽ trở về cộng đoàn của mình, sẽ lại vào trong căn phòng nhỏ sạch sẽ ấm cúng của tôi. Một thế giới an toàn. Một thế giới không có những trăn trở về cơm áo gạo tiền. Và cũng là một thế giới riêng tư ích kỷ, một thế giới đôi khi lãng quên sự hiện diện của Thiên Chúa. Chính tôi mới là người phải khiêm tốn cúi đầu trước chị, một chứng nhân âm thầm của Thiên Chúa.

Tiễn tôi ra cửa, chị hỏi khi nào tôi sẽ trở lại. Tôi trả lời bâng quơ: Khi nào trời đẹp thì sẽ lên thăm. Chị bảo sự có mặt của tôi trong căn nhà của chị làm chị rất mừng. Còn tôi, tôi tự nhủ: phải chi tôi biết chị sớm hơn vì đây là chuyến thứ hai, cũng là chuyến cuối cùng tôi đến thăm chị. Nắm tay chị, tôi ao ước được chị truyền cho cái sức sống mạnh mẽ trong trái tim của một chứng nhân như chị.

Mỗi lần vào sa mạc trong dịp tĩnh tâm tháng, tôi thường mon men lên ngọn núi sau nhà, nơi có “thành phố của những người chết”. Tại đây có một thứ âm thanh mà mỗi lần nghe thấy đều làm tôi day dứt, khó chịu. Đó không phải là tiếng gió lùa trên các ngọn thông hay tiếng chim chóc ríu rít trong các lùm cây. Đó cũng không phải là tiếng bước chân xào xạc trên lá hay tiếng máy nổ vọng lên từ thung lũng. Một thứ âm thanh sắc ngọt, dứt khoát như xuyên qua lỗ tai và cắm thẳng vào tâm hồn. Đó chính là tiếng đục đá.

Thoạt đầu, giữa vô vàn thứ âm thanh trên ngọn núi này, nó lạc lõng và chìm vào không gian bao la ngút ngàn. Nhưng khi các tán thông ngừng reo, đứng yên vì lặng gió; khi tiếng chim thôi rộn ràng vì mải miết kiếm ăn, khi tiếng máy nổ im hơi để người nông dân nghỉ ngơi và khi tôi dừng bước để đi vào giờ cầu nguyện thì tiếng đục đá vẫn đều đều vang lên bên triền núi. Tôi thường cảm thấy bực bội vì thứ âm thanh khó chịu ấy. Nó đều đều, chát chúa chẳng chịu để tôi yên. Nó cứ như một lời chê trách chĩa vào tôi, cười nhạo tôi như một kẻ trốn đời, giấu mình trong tu viện và bây giờ lại tìm sự thanh thản trong rừng sâu. Nhiều lúc chịu không nổi, tôi cố đi thật xa, càng xa cái thứ âm thanh đó càng tốt để dễ bề cầu nguyện.

Một ngày sa mạc nọ, tôi đã không đến chỗ cũ quen thuộc đó nữa mà đi thật xa. Sau hơn một giờ đi bộ, tôi đã đến khu rừng bên cạnh hồ Tuyền Lâm. Nơi đây thật lý tưởng: Có dòng suối uốn mình, có thác đổ lao xao và nhất là từ trên đỉnh núi, tôi có thể trông thấy hồ Tuyền Lâm mềm mại như một tấm lụa nhiều màu sắc trải dài trên nền xanh ngút ngàn của rừng thông. Nơi đây, ngoài tiếng gió và tiếng chim, không có một thứ âm thanh nào khác. Không tiếng máy nổ. Không tiếng xe cộ. Và nhất là không có tiếng đục đá khô khốc, lạnh lùng. Thế mà thật lạ! Giữa khung cảnh tĩnh mịch, nên thơ ấy, tôi lại nhớ tiếng đục đá da diết. Tôi nhớ anh thợ đục đá mà tôi đã gặp lần trước.

Lần đó, khi không còn chịu nổi cái tiếng “chát chát…cạch cạch”, pha thêm một chút tò mò, tôi đã lần theo con đường mòn, đi theo hướng phát ra cái thứ âm thanh đó. Sau một hồi mò mẫm, tôi đã tới nơi và gặp thấy ở đó một người thợ. Đó là một người đàn ông trung niên khoảng tứ tuần. Tranh thủ giờ nghỉ giải lao ngắn ngủi của anh, tôi đã tìm cách làm quen và nói chuyện với anh. Anh sinh ra tại một gia đình đông anh em tại dải đất miền Trung nắng cháy xa xôi. Để tìm kế mưu sinh, anh đã trôi dạt lên chốn cao nguyên này. Thời gian trôi qua, anh lập gia đình và hiện đã có hai đứa con. Nhìn lại quá khứ, anh thấy đời mình trôi qua thật nhanh. Những hoài bão thời trai trẻ nay đã không còn. Hiện tại, bao nhiêu ước mơ và hy vọng, anh dành cả cho hai đứa con nhỏ. Ngày ngày, anh chạy xe lên đây làm nghề đục đá. Vậy mà đã gần mười năm rồi. Khi được hỏi về những khó khăn trong công việc, anh cười mà ánh mắt chất đầy những ưu tư: Mỗi ngày cố gắng kiếm được khoảng 50.000 đồng, còn những ngày mưa gió thì coi như trùm bạt ngồi không. Đó là chưa kể những lần bị miểng đá văng vào mắt phải nhập viện, những lần búa đóng trật trúng vào tay… hay có những ngày quần quật bên tảng đá mà chẳng được đồng nào vì đá non giòn, buôn lái không mua… Tôi không tài nào có thể tưởng tượng được những nỗi vất vả của anh. Nghe anh kể mà miệng tôi mặn đắng…

Tôi nhớ có một bài hát nào đó mà tôi thỉnh thoảng vẫn thường hát: “Chỗ này là thảm hoa nhưng Người không bước vào. Người lại đứng nơi kia bên những người nghèo khổ. Nơi này là chỗ cao nhưng Người không đến gần. Người lại đứng nơi kia, bên hàng hạ nhân khốn cùng. Người ở với người nông dân đang cày bừa. Người ở với người công nhân đang đập đá…” Người ở với người công nhân đang đập đá!!! Hôm nay, tôi đã tình cờ nhận ra Người khi tôi ngồi xuống bên anh – người công nhân đập đá – để lắng nghe những tâm sự chân thành của anh. Người hiện diện bên anh trên triền núi này đã bao ngày tháng. Người đã chia sẻ với anh bao nỗi nhọc nhằn, vất vả. Còn tôi, tôi đã bao lần phớt lờ đi qua anh mà không một lời thăm hỏi lại còn lấy làm bực bội vì tiếng đục đá chát chúa của anh. Tôi không hiểu hay không biết rằng: Trong lúc tôi đang thẩn thơ đi dạo dưới những bóng mát của cây rừng thì anh đang phơi mình dưới nắng gió; trong lúc tôi đang yên bề cầu nguyện để mong tìm gặp Chúa thì anh lại đang đổ mồ hôi cho công việc với nhiều nguy hiểm. Giêsu đang ở bên anh và đang làm việc với anh. Người làm để chia sẻ kiếp người lận đận và muôn vàn nỗi khổ đau của nhân thế. Người đến bên anh để tôi thấy rằng Người không phải là một vị Chúa ở mãi trên cao để tôi phải ngửa mặt tìm kiếm. Tiếng đục đá như tiếng Người thôi thúc tôi hãy từ bỏ cái vỏ ốc ấm áp nhưng ích kỷ của mình để đến với Người. Tiếng đục đá như tiếng Người trách móc tôi đã quá vô tâm trước nỗi vất vả của tha nhân.

Tôi hỏi anh sao không chuyển làm nghề khác cho đỡ mất sức và có thu nhập khá hơn. Anh trả lời: Biết làm gì đây. Nhà nghèo, ít học và đã có tuổi; vả lại, một mảnh đất cắm dùi cũng không. Sao “Giêsu của tôi” lại nghèo nàn đáng thương đến thế? Sao “Giêsu của tôi” lại cam chịu số phận đắng cay nghiệt ngã? Tôi không hiểu được – không bao giờ có thể hiểu được. Tôi nghĩ Người chỉ có thể ở trong những ngôi thánh đường lộng lẫy, những tu viện kín cổng cao tường hay ở một nơi nào đó trên khoảng không gian cao xa vô tận. Tôi đã quên máng cỏ Bêlem. Tôi đã quên xưởng mộc Nazarét. Và tôi cũng đã quên cây thập giá trên đỉnh đồi Canvê. Tiếng đục đá như tiếng Người gào thét thay cho cả nhân loại khổ đau dội vào tim tôi.

Tiếng đục đá của người thợ mà tôi quên hỏi tên còn làm vang dội trong tôi đủ loại hình ảnh và âm thanh khác đã từng đi qua đời tôi. Đó là tiếng rao hàng khàn khàn của những người bán dạo, là lời mời dai dẳng của những em bé bán vé số, là ánh mắt khẩn khoản, là đôi tay cáu bẩn và run rẩy của những người ăn xin… Và còn đó vô số những hình ảnh và âm thanh khác mà tôi luôn tìm cách né tránh khi phải đối diện với chúng. Tôi biết làm gì để giúp họ - những con người đang phải vật lộn với cuộc mưu sinh – ngoài việc đưa họ vào trong các giờ kinh nguyện?

Giêsu đã đến với họ và ở cùng họ. Tôi cũng muốn được ở cùng Người nhưng lại ngại phải dãi nắng dầm sương. Tôi không chịu được cảnh gió sương bên triền núi hay cái ồn ào, bụi bặm giữa lòng thành phố. Ôi Giêsu! Sao Người cứ muốn tôi phải đến những nơi tôi không muốn? Tôi thấy bế tắc để tìm ra câu trả lời. Và rồi máng cỏ Bêlem hiện về. Rách nát và hôi tanh giữa đồng hoang là túp lều tranh nơi Chúa tôi sinh hạ. Vẫn còn đó xưởng mộc Nazarét. Ngày ngày Người vẫn đổ mồ hôi trong tiếng đục, tiếng đẽo và mùi gỗ sặc nồng. Bóng chiều vàng đổ dài hình dáng cây thập giá trên đỉnh đồi Canvê. Người hấp hối trong cô đơn và sầu khổ với tấm thân trần nằm phơi giữa ngày đông giá lạnh. Sao Giêsu lại có thể làm thế? Tình yêu!!! Người cho tôi thấy tình yêu của Người nơi máng cỏ, nơi lều tranh và nơi thập giá. Còn tôi, tôi sẽ phải làm gì để Người thấy tình yêu của tôi? Đó có phải là chiếc bánh được trao cho người đói lả, là chiếc áo được gửi tặng cho người rách rưới, là ở bên và lắng nghe lời than thở của những tâm hồn sầu úa, là đến gần và lau giọt mồ hôi của người thợ vất vả…? Đó phải chăng là những điều Người đã làm và nay Người muốn tôi làm nếu tôi thực sự yêu mến Người? Tiếng đục đá như tiếng Người thôi thúc.

Đêm đêm, khi muôn loài đã say ngủ và màn sương dày đặc bao phủ khắp nơi, trong tôi vẫn vọng lên tiếng đục đá đều đều. Ôi! Tiếng đục đá bao giờ mới ngừng vang vọng bên triền núi? Và tiếng Chúa bao giờ mới ngừng thôi thúc trong tôi? Tôi có thể làm được gì trong lúc này khi chỉ là một tập sinh? Thế là tiếng đục đá cứ vẫn theo tôi vào giấc ngủ như một tiếng thở dài của nhân thế, chờ đợi một ngày mới bắt đầu với tiếng chim ca và ánh dương rực rỡ…

______________________________________